Magnesium magiê
Magnesium  - theo tiếng Latinh, Magiê, Manhê trong tiếng Việt là tên một nguyên tố hoá học có ký hiệu Mg và số nguyên tử bằng 12.

Vai trò của magiê đối với con người

Người Pháp coi khoáng magiê là siêu sao về muối khoáng. Chỉ sắt và calci có thể sánh được với nó. Kẽm và selen cũng quan trọng nhưng nó vẫn đứng xa magiê.

Lý do chính khiến magiê đạt được vị trí siêu sao là : magiê có vai trò như một tác nhân chống stress quan trọng.

Magiê được kê cho phụ nữ có thai dùng một cách có hệ thống và là tác nhân bảo vệ tim mạch. Nó được sử dụng trong bệnh viện nhiều nhất trong các khoa cấp cứu bệnh nhồi máu.

Khoáng chất ma-giê giữ vai trò quan trọng cho cấu trúc vững chắc của xương. Nhờ có Mg mà chất vôi (can xi) được trải đều trong mô xương.

Bên cạnh đó, Mg là khoáng tố không thể thiếu cho vận động của bắp thịt. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế thì uổng cho công năng đa dạng của khoáng chất này. Mg là hoạt chất tối cần thiết cho trái tim trong cả hai ý nghĩa phòng bệnh và trị bệnh.

Magiê đặc biệt tốt cho Tim

Bác sĩ Dolf Kunzel, nổi tiếng ở Đức không chỉ nhờ mát tay chữa bệnh mà còn do đã viết sách “Cuộc sống mới sau lần nhồi máu cơ tim”. Chính bản thân ông đã hồi phục nhanh và trở về đời sống bình thường nhờ biết cách dùng Mg. Kunzel đã không quá lời khi ca tụng Mg vì khoáng tố này giúp:

- Tăng cường thu nạp dưỡng khí cho tế bào, nhất là cơ tim.

- Chống co thắt cơ trơn nên giúp giãn mạch và hạ huyết áp.

- Cải thiện tuần hoàn trong mạng lưới vi mạch.

- Giữ máu loãng để tránh thuyên tắc.

Từ lâu Magiê đã là thành tố quan trọng trong phác đồ điều trị phục hồi sau khi thuyên tắc mạch vành cũng như để ngăn ngừa tình trạng tái phát. Bên cạnh đó, Mg còn tốt cho người bị rối loạn nhịp tim. Trong nhiều trường hợp đã được xác minh qua nghiên cứu lâm sàng, sử dụng Mg lâu dài là biện pháp điều hòa nhịp tim với hiệu năng không thua các loại thuốc đặc hiệu, thậm chí nhiều khi còn tốt hơn vì ít phản ứng phụ.

Không dừng lại trong phạm vi điều trị, Mg còn là phương tiện sinh học để phòng ngừa bệnh tim mạch. Thống kê qua nhiều mô hình khảo sát cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa Mg và bệnh lý của hệ tuần hoàn. Điều cần lưu ý là bệnh tim dễ thành hình ở người chưa hẳn thiếu Mg nhưng hàm lượng khoáng tố này trong máu nằm gần trị số cực tiểu của định mức bình thường. Đáng nói hơn nữa là nhiều thầy thuốc khi xét nghiệm chất điện giải trong máu thường chỉ chú trọng các khoáng tố thông thường như Na, Ca, K, Cl mà bỏ lửng Mg hoặc có cho xét nghiệm Mg nhưng không lưu tâm vì kết quả tuy thấp song vẫn còn trong định mức bình thường.

Đây là thiếu sót nghiêm trọng. Theo kết quả một công trình nghiên cứu kéo dài gần 20 năm với hơn 5.000 đối tượng, người có hàm lượng Mg trong máu càng thấp càng dễ bị bệnh mạch vành. Ngược lại, nếu hàm lượng này càng cao, miễn đừng thừa, thì gia chủ hiếm khi có vấn đề với trái tim. Do đó, đối tượng có cuộc sống “không stress không về” nên lưu ý:

- Kiểm soát định kỳ chất điện giải qua xét nghiệm có tên là ion đồ nhưng đừng quên lưu ý thầy thuốc về Mg, nhất là đối tượng dễ thất thoát khoáng tố này, chẳng hạn trong tuổi mãn kinh hay ở người thường dùng thuốc tẩy xổ.

- Dùng thuốc có Mg nhiều ngày nếu lượng khoáng tố này trong máu thuộc 1/3 dưới của trị số bình thường cho đến khi hàm lượng này được cải thiện, tối thiểu với trị số ở khoảng giữa định mức bình thường.

- Bổ sung Mg bằng nước khoáng trong chế độ dinh dưỡng hằng ngày.

- Kết hợp thuốc có Mg với sinh tố E vì đây là cặp bài trùng cộng hưởng trong tác dụng trung hòa độc chất của môi trường ô nhiễm, qua đó bảo vệ phòng chống xơ vữa mạch máu.

Muốn bảo vệ con tim, đừng quên Mg. Đừng lạm dụng thuốc. Ngược lại, cũng đừng đợi đến thiếu mới bổ sung.

Nguồn thức ăn cung cấp nhiều magiê

Thức ăn giàu magiê nhất là đậu nành, cá, trái cây khô, chuối, khoai lang, loại hạt có dầu, rau xanh. Chocolat có chứa magiê nhưng dường như nó khó hấp thu, bởi sự có mặt của các chất béo no.’

thực phẩm giầu magie
Nhu cầu hàng ngày magiê là bao nhiêu?

Hàm lượng magiê trong thức ăn đã giảm đều đặn từ một thế kỷ nay và đặc biệt trong thế kỷ vừa qua (lúa mì bị loại bỏ cám, đường, mỡ, thực vậttinh chế). Quá trình loại bỏ cám làm mất 96% magiê đường tinh chế làm mất 99,9%, bóc sạch vỏ lúa làm mất 83,3%. Ngược lại, các kỹ thuật nấu bếp tiến bộ khi có tác dụng tốt đối với muối khoáng, chẳng hạn : hấp hơi hay nấu rau trong một cái nồi sâu, dày không cần nước sẽ giữ được magiê tốt hơn (ngược lại mất 30 đến 50% khi nấu với nước).

Phụ nữ và Magiê

Phụ nữ, đặc biệt là người đang mang thai là đối tượng rất cần magiê vì estrogen trong cơ thể họ có xu hướng kháng magiê. Trong chu kỳ kinh nguyệt, khi estrogen tăng thì lượng magiê giảm, một trong những lý do gây ra các rối loạn tiền kinh: đau bụng, căng vú, phù, giữ nước, dễ bị kích thích. Thuốc ngừa thai cũng làm tăng nhu cầu về magiê.

Có thai là thời kỳ mà estrogen tăng lên cao nhất và magiê giảm xuống thấp nhất.

Ở Đức, phụ nữ có thai được cấp phát magiê một cách hệ thống, giúp họ giảm những biến chứng khi có thai như co giật, rối loạn lúc chuyển dạ và cải thiện tình trạng sức khỏe của em bé lúc sinh.

Ngoài ra, bổ sung thêm magiê có khả năng giảm mạnh nguy cơ sinh non. Các bác sĩ sản khoa thường truyền magiê qua tĩnh mạch để chống lại nguy cơ sinh non.

Stress làm tăng nhu cầu magiê.

Thật vậy, khi bị stress thì adrenalin được giải phóng ra bởi tuyến thượng thận cố định trên những tế bào (tế bào cơ) hoặc sự đi vào của calci, calci này sẽ săn đuổi magiê làm cho lượng magiê trong máu tăng lên. Khi đó,thận nhận được nhiều magiê và phải làm việc để thải magiê ra nước tiểu. Lượng magiê bị mất đi tỉ lệ thuận với mức độ stress.

Chứng ưa co thắt trên cơ địa di truyền cũng làm tăng phản ứng với stress, do khả năng giữ magiê trong tế bào kém. Đối với những người này, cần thiết phải bổ sung hàng ngày sao cho phù hợp với mức độ của stress.

Thể thao làm tăng nhu cầu về magiê, vì cần nó để sinh năng lượng cho các hoạt động cơ bắp. Người bị lạnh, nhiệt, uống café, rượu, thuốc lợi tiểu, người bị bệnh tiểu đường cũng có nhu cầu về magiê cao hơn.

Triệu chứng thiếu magiê

Khi thiếu Magiê, cơ thể thường có dễ mệt mỏi, tê cóng, co rút, run, đau cơ, đau đầu, có xu hướng lệch cột sống, bụng trướng, rối loạn về nhu động ruột, cảm giác ngộp thở, lo lắng, dễ kích thích với tiếng ồn, với stress, mất ngủ, nhịp tim tăng, tăng huyết áp, tiếng thổi ở tim, tăng thông khí, giả chóng mặt, không cân bằng khi bước đi, đau đầu…Tất cả triệu chứng này khiến stress càng nặng thêm.

Dùng magiê thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?

Tốt hơn không nên dùng magiê khi bị viêm bàng quang (nguy cơ gây ra sỏi với phospho), nhược cơ, chậm nhịp tim và một vài tình trạng trầm cảm với lượng magiê trong hồng cầu cao. Liều lượng sử dụng cần được điều chỉnh theo ý kiến bác sỹ nếu có suy thận.

Phần lớn muối magiê khó được hấp thu, ngay khi có tác dụng nhuận tràng. Tác dụng phụ là làm tăng nhu động ruột, do đó lựa chọn muối magiê cũng là khâu quan trọng một vài muối không có những tác dụng này và được hấp thu tốt hơn như là glycérophosphate magiê.

Tính chất lý hoá của magiê

Magiê là kim loại tương đối cứng nhưng nhẹ (chỉ khoảng 2/3 nhôm nếu cùng thể tích), màu trắng bạc và bị xỉn nhẹ đi khi để ngoài không khí. Ở dạng bột, kim loại này tự cháy khi để vào chỗ ẩm và cháy với ngọn lửa màu trắng. Khi ở dạng tấm dày, nó khó bắt lửa, nhưng khi ở dạng lá mỏng thì nó bắt cháy rất dễ. Một khi nó đã cháy sẽ rất khó dập, nó có thể cháy trong nitơ (tạo ra nitrua magiê) và cả trong điôxít cacbon.

Magiê trong nguồn nước

Trong các nguồn nước cứng (nhiều canxi) thường cũng sẽ có nhiều magiê. Tuy nhiên, do hàm lượng can xi cao không tốt cho sinh hoạt cũng như sức khoẻ nên nó thường được khử bằng các thiết bị làm mềm nước. Các thiết bị này cũng khử luôn một lượng đáng kể magiê.

Tuy nhiên, như đã nói ở phần trên, rất nhiều loại thực phẩm có chứa khoáng magiê. Hãy tích cực bổ sung qua đường ăn uống, vừa ngon miệng, vừa bổ dưỡng.